BizLIVE - Chuyên gia đánh giá, tỷ lệ được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp còn rất hạn chế. Chính sách hỗ trợ tập trung “giảm thu”, trong khi nhiều doanh nghiệp hiện đã không còn nguồn thu để hưởng...
Ngày 01/10, Diễn đàn chính sách trực tuyến "Hỗ trợ doanh nghiệp trong đại dịch COVID-19: Từ chính sách đến thực tiễn” đã được Tạp chí Hải quan tổ chức.
Buổi tọa đàm được thực hiện với mục đích trao đổi, đánh giá về các chính sách giãn, hoãn, giảm thuế, các chính sách liên quan lĩnh vực tín dụng ngân hàng đã có tác động “trợ lực” như thế nào đối với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời góp ý giải pháp tiếp theo để doanh nghiệp có thể được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ một cách kịp thời, hiệu quả nhất.
Tại diễn đàn, bà Nguyễn Thị Thu Hà, Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền Hỗ trợ người nộp thuế, Tổng cục thuế cho biết, trong năm 2020, ngân sách đã hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp 129 nghìn tỷ đồng.
Trong đó, 97,5 nghìn tỷ đồng là thực hiện theo chính sách gia hạn các khoản về đóng góp vào ngân sách và 31,5 nghìn tỷ đồng là miễn giảm trực tiếp cho người nộp thuế. Với việc triển khai kịp thời các biện pháp hỗ trợ trực tiếp cho người nộp thuế trong năm 2020, các chính sách này đã giúp cho doanh nghiệp và người dân vơi bớt đi khó khăn và vượt qua được dịch bệnh trong năm 2020.

Mới đây nhất, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nghị quyết về một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 số tiền khoảng 21,3 nghìn tỷ đồng. 

Theo bà Hà, gói hỗ trợ này mang tính chất miễn giảm trực tiếp số thuế phải nộp trong khi các gói hỗ trợ trước chỉ là gia hạn thời hạn nộp thuế và mang tính chất là Nhà nước cho vay và không phải nộp lãi. Nhiều sắc thuế được hỗ trợ như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và tiền chậm nộp.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền Hỗ trợ người nộp thuế, Tổng cục Thuế 
Dư địa hỗ trợ doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng đã gần như cạn kiệt
Phát biểu tại tọa đàm, ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết, thời gian qua hệ thống ngân hàng đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ cho các doanh nghiệp theo tinh thần Thông tư 03 của Ngân hàng Nhà nước.
Theo đó, để có nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp các tổ chức tín dụng đã nỗ lực mở rộng hoạt động kinh doanh, đẩy mạnh hoạt động dịch vụ nhằm tăng lợị nhuận.
Ông Hùng cho biết, việc ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp hoàn toàn từ tiền của các ngân hàng, không có nguồn lực nào khác. Vì vậy quy định doanh nghiệp có nợ xấu không được vay vốn cần tiếp cận từ 2 phía, nhất là khi lĩnh vực ngân hàng rất nhạy cảm. Nếu doanh nghiệp không bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, vẫn sản xuất kinh doanh hiệu quả thì nên chia sẻ ngược lại với các ngân hàng. Doanh nghiệp nếu có nợ xấu, nhưng chứng minh được khả năng phục hồi, trả được nợ thì ngân hàng có thể xem xét cấp tín dụng.

Tuy nhiên, ông Hùng cũng khẳng định bản thân các ngân hàng, tổ chức tín dụng cũng chính là doanh nghiệp, phải dùng chính phần lợi nhuận của mình để chia sẻ với doanh nghiệp trong bối cảnh bản thân cũng chịu ảnh hưởng từ COVID-19.

Đối với những khoản cơ cấu nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, tuy chính sách có nhưng bản chất, nền tảng của các khoản nợ này là nợ dưới chuẩn. Mặc dù không phải trích lập dự phòng rủi ro ngay nhưng các tổ chức tín dụng sẽ phải trích lập trong vòng 3 năm và thực hiện ngay trong năm 2021 là 30%.
"Đây là một áp lực lớn đối với các tổ chức tín dụng trong việc trích lập dự phòng rủi ro", ông Hùng đánh giá.
Thông tin thêm, ông Hùng cho biết, với những khoản nợ nhóm 1 đang tạo ra tiềm ẩn nợ xấu trong tương lai rất lớn với các ngân hàng. Vì vậy, lợi nhuận hiện nay của ngân hàng chỉ là tính trước mắt và trong tương lai gần lợi nhuận ngân hàng sẽ sụt giảm rất đáng kể.

Theo Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng, những khó khăn chung đang khiến dư địa hỗ trợ doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng đã gần như cạn kiệt. Tác động của COVID-19 đến các tổ chức tín dụng có độ trễ, hiện ngân hàng đồng ý cho doanh nghiệp vay nhưng nếu doanh nghiệp không trả được nợ thì ngân hàng là người chịu ảnh hưởng.

Vì thế, để các tổ chức tín dụng có thêm nguồn lực và điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp thì chính sách phải dài hạn.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng  

Về nguồn lực cho tín dụng, ông Hùng cho biết, chính sách tiền tệ đã sử dụng hết khả năng, nên cần sự vào cuộc của chính sách tài khóa. Chính phủ có thể phát hành trái phiếu, vay từ ngân hàng trung ương như các quốc gia khác… để có đủ nguồn lực hỗ trợ nền kinh tế.

Ông Hùng đưa ra so sánh, cuộc khủng hoảng dịch bệnh năm 2021 với khủng hoảng năm 2009, khi đó Chính phủ đã có gói hỗ trợ nền kinh tế lên tới 145.000 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp lên đến 1 tỷ USD. Nhưng hậu quả là phải thành lập Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) vào năm 2014.
Vì vậy, theo ông Hùng, chính sách phải đủ mạnh để đảm bảo quyền lợi của hội viên khi giải quyết tham gia hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng việc để lại khoản nợ xấu khổng lồ trong vài năm nữa là điều không mong muốn. Các ngân hàng sẽ lại lo ngại mang danh “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
"Chính vì những lo lắng như thế nên các tổ chức tín dụng phải thận trọng khi cho vay vốn. Để tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, NHNN cần ban hành cơ chế, chính sách, đừng đặt doanh nghiệp là đối tượng, phải coi họ là đối tác. Hơn nữa, việc ban hành chính sách cần sự đồng hành của các bộ, ngành liên quan”, ông Nguyễn Quốc Hùng nêu quan điểm.
Cần các chính sách hỗ trợ "tiền tươi thóc thật"
Đề cập đến những chính sách về thuế hay tín dụng đã được triển khai gần đây, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá các gói hỗ trợ này đã có tác dụng lớn trong việc giảm khó khăn cho doanh nghiệp.
Những chính sách thuế hay tín dụng khi triển khai đã góp phần giúp doanh nghiệp phần nào giảm đi nguy cấp về luồng tiền nhất là trong bối cảnh phần lớn doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, hàng không bán được, dịch vụ không cung cấp được trong khi vẫn phải chi trả cho rất nhiều chi phí.
Trong khảo sát của VCCI tiến hành trong năm 2020, ông Tuấn thông tin tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận được với các chính sách thuế trong 2020 và đầu năm 2021 khá cao.
Theo ông Tuấn, với Nghị định 52 về giãn, hoãn thuế và tiền thuê đất theo công bố là có quy mô 115 nghìn tỷ đồng, tuy nhiên VCCI ước tính giá trị thực chỉ khoảng hơn 1900 tỷ đồng.
Ông Tuấn cũng bày tỏ sự kỳ vọng thời gian tới, khi thực hiện nghị quyết của Quốc hội mà Bộ Tài chính đang xây dựng, triển khai (gói 21 nghìn tỷ đồng) với những chính sách về giảm thuế GTGT, tiền thuế đất và mở rộng đối tượng thụ hưởng sẽ có tác dụng hỗ trợ nhiều hơn nữa cho các doanh nghiệp đang gặp khó khăn.
  Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI
Còn về chính sách tín dụng (với các Thông tư 01, Thông tư 03 và Thông tư 14 của NHNN) về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, giảm phí, giữ nguyên nhóm nợ..., đại diện của VCCI đánh giá chính sách này đã phần nào tăng khả năng tiếp cận vốn và giảm bớt áp lực tài chính cho doanh nghiệp. Cũng như giảm áp lực trích lập dự phòng rủi ro cho chính hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thực tế, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng, tỷ lệ thụ hưởng các chính sách hỗ trợ của doanh nghiệp còn rất hạn chế, nhiều chính sách ban hành ngắn hạn, chưa tướng xứng với tình trạng và khả năng phục hồi của doanh nghiệp. Nhiều dự báo cho rằng, phải đến giữa năm 2022, các doanh nghiệp mới phần nào khôi phục được.
Chẳng hạn, về chính sách thuế, Trưởng Ban Pháp chế của VCCI nêu rõ, các chính sách mới thực hiện tích cực từ phía “giảm thu”, chưa “tăng chi” để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Doanh nghiệp cần các nhóm giải pháp mạnh hơn, phải là “tiền tươi thóc thật”, bởi nhiều chi phí tài chính vẫn như “quả bom” treo lơ lửng đối với doanh nghiệp. Ông Đậu Anh Tuấn
Mức độ hỗ trợ này còn ít vì với chính sách “giảm thu” thì doanh nghiệp nào còn doanh thu mới được thụ hưởng, trong khi nhiều doanh nghiệp hiện đã không còn nguồn thu, dẫn đến tỷ lệ thụ hưởng hạn chế.
Đồng thời, ông Tuấn cũng kiến nghị, trong lúc này, doanh nghiệp rất cần có thêm các chính sách "tiền tươi thóc thật" để hỗ trợ.
"Một số chính sách hỗ trợ mới đang thiết kế ở mức giãn, hoãn, không phải giảm. Nên doanh nghiệp cần các nhóm giải pháp mạnh hơn, phải là “tiền tươi thóc thật”, bởi nhiều chi phí tài chính vẫn như “quả bom” treo lơ lửng đối với doanh nghiệp”, ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.
Về lý do, Trưởng ban Pháp chế VCCI đánh giá, chính sách về thuế hỗ trợ doanh nghiệp mới chỉ dừng ở mức hoãn, giãn thời gian nộp chứ chưa giảm, vì vậy, hết thời gian giãn nộp, doanh nghiệp vẫn sẽ phải nộp tiền thuế được gia hạn trước đó.
"Suy cho cùng, gánh nặng tài chính vẫn treo lơ lửng. Nên doanh nghiệp mong mỏi cần chính sách hỗ trợ bằng tiền tươi thóc thật", ông Tuấn nêu góc nhìn.

Bên cạnh đó, về quy mô chính sách, ông Đậu Anh Tuấn cũng nhận định, quy mô các gói hỗ trợ của Việt Nam còn khiêm tốn, nhỏ hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực. Như Thái Lan hiện có gói hỗ trợ là 12,4% GDP, Indonesia là 5,4% GDP. Theo các tính toán, gói hỗ trợ của Việt Nam vào khoảng 4% GDP, tương đương 250.000 tỷ đồng.

Phải để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ về chính sách
 
Trong khi đó, bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho biết, qua khảo sát của Ban IV tiến hành trong năm 2020 cho thấy, việc áp dụng, thực thi các chính sách có vấn đề.
Theo phản ánh của hầu hết doanh nghiệp, chỉ có cơ quan thuế tiến hành các hoạt động truyền thông, quảng bá về chính sách để tăng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp.  
"Đưa ra chính sách chỉ là một phần còn để chính sách đến gần hơn với đời sống, trước tiên là phải để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ về chính sách", bà Thủy cho biết.
Quay trở lại góc nhìn về giá trị với doanh nghiệp, bà Thủy tiếp tục khẳng định khó khăn nhất lúc này chính là sức khỏe tài chính, hạn chế dòng tiền và tăng chi phí.
Đồng tình với quan điểm của ông Đậu Anh Tuấn, bà Thủy nhìn nhận giữa những kỳ vọng trong thực tiễn với những chính sách thiết kế kế vẫn còn những khoảng cách nhất định.
Tuy nhiên bà Thủy cũng chia sẻ, trong bối cảnh nguồn lực ngân sách còn hạn chế, chính sách lại áp dụng cho số đông, lại chưa có những chính sách đi vào những nhóm chuyên sâu, đặc thù vì thế "khi mà nguồn lực vừa phải, lại phải san đều cho nên mức độ hỗ trợ mà doanh nghiệp nhận được từ phía nhà nước vẫn còn những hạn chế".
Về những chính sách liên quan đến ngân hàng, các doanh nghiệp phản hồi việc áp dụng giữa các ngân hàng còn chưa đồng nhất. Tức là việc để doanh nghiệp tiếp cận được sự hỗ trợ từ khối ngân hàng còn có khoảng cách kể cả khi Thông tư 01 đã được sửa đổi.
Bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV)
Theo lãnh đạo Ban IV, thậm chí kể cả khi chính sách đã sửa đổi rồi nhưng các ngân hàng thương mại vẫn chưa triển khai.
Vì vậy, bà Phạm Thị Ngọc Thủy gợi ý, thời gian tới vẫn các cách làm để gia tăng hiệu quả. Có thể là tương tự như là cách ngành Thuế đã làm, nghĩa là đối thoại gần với doanh nghiệp để cải thiện năng lực tiếp cận vốn của doanh nghiệp, qua đó giúp ngân hàng tăng khả năng đáp ứng.

Chia sẻ tiếp về các vấn đề vướng mắc doanh nghiệp gặp phải khi triển khai chính sách thuế, tín dụng, bà Thủy cho rằng, vấn đề đầu tiên doanh nghiệp gặp phải là câu chuyện hiểu chính sách. Các quy định hiện nay không dễ để người dân và doanh nghiệp đọc là hiểu được ngay, bởi mặt bằng hiểu biết về chính sách pháp luật khác nhau.

Tiếp đó là bài toán tiếp cận. Trong giai đoạn vừa qua có rất nhiều chính sách đã được triển khai nhưng đến khâu chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ, trao đổi trực tiếp với cán bộ công chức các cấp thì lại phát sinh những bất cập, bức xúc.

“Vừa qua Ban IV đã thực hiện nhiệm vụ được Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng giao đó là đánh giá tình hình thực hiện các quy trình thủ tục trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Qua đánh giá thì thấy có vô vàn “than phiền” liên quan đến việc các thủ tục thiết kế không thuận lợi. Trong đó có cả thủ tục về thuế, phí, lệ phí, cả thủ tục trong khối ngân hàng, hồ sơ thủ tục còn phức tạp.", bà Thủy nêu vấn đề.
Lãnh đạo văn phòng Ban IV cho biết thêm một vấn đề từ thực tiễn, doanh nghiệp băn khoăn về thời gian và công sức bỏ ra so với khoản tiền nhận được hỗ trợ. Có những quy trình thủ tục làm rất mất công, mất sức, thậm chí chứng minh hàng tập hồ sơ nhưng phần hỗ trợ nhận được quá nhỏ nên cuối cùng doanh nghiệp đành "bỏ cuộc".
Doanh nghiệp là chủ thể chính của việc thực hiện mục tiêu kép
Trước câu hỏi về mong muốn của doanh nghiệp thời điểm hiện tại, bà Phạm Thị Ngọc Thủy cho biết, nguyện vọng lớn nhất của cộng đồng doanh nghiệp lúc này là được hoạt động.

“Tài chính, đồng tiền như là máu của doanh nghiệp, tất cả mọi sự hỗ trợ mặc dù rất đáng quý nhưng để có thể vực dậy được hay chưa thì chưa đủ, vì nguồn lực chung đều hạn hẹp. Vì vậy nguyện vọng lớn nhất của doanh nghiệp lúc này là được hoạt động.”, bà Thủy nêu lên phản ánh của nhiều doanh nghiệp.

Giải một bài toán khó khăn trong bối cảnh đại dịch thì không có một cơ quan nào có thể làm thay tất cả.Bà Phạm Thị Ngọc Thủy
Cũng theo bà Thủy, nguyện vọng tiếp theo của nhiều doanh nghiệp là được cơ quan quản lý đặt vào trong vị thế cùng quản lý về tính an toàn, rủi ro trong bối cảnh dịch, thay vì chỉ là đối tượng chịu sự quản lý, hoặc được nhận sự hỗ trợ của nhà nước hay chờ giải cứu.
“Trong gần 2 năm qua cách thiết kế chính sách luôn đặt doanh nghiệp ở vai hoặc là được, hoặc là bị, hoặc là phải, tức là tính chủ động không cao. Trong khi bản thân doanh nghiệp không chỉ là doanh nghiệp mà còn là bài toán của việc phục hồi kinh tế, là chủ thể chính của việc thực hiện mục tiêu kép. Cho nên nguyện vọng thứ hai chính là tính chủ động”, bà Phạm Thị Ngọc Thủy thông tin.

Bà Thủy chia sẻ thêm, để giúp doanh nghiệp thích ứng tốt hơn trong cuộc chiến chống COVID-19 cũng như nhanh chóng phục hồi sản xuất, kinh doanh, mới đây Ban IV đã có báo cáo kiến nghị Thủ tướng Chính phủ nhiều nội dung. Trong đó tiếp tục kiến nghị nhiều vấn đề về mặt nguyên tắc.

Thứ nhất, Chính phủ và các bộ ngành địa phương cần thay đổi mạnh mẽ nhận thức cho phép DN, cụm doanh nghiệp trở thành chủ thể tham gia vào các hoạt động quản lý sự an toàn trong bối cảnh dịch, thay vì chỉ là đối tượng chịu sự quản lý như trước đây.

Thứ hai, trong mọi bối cảnh của dịch bệnh, các cấp chính quyền và người dân, doanh nghiệp cần có cùng tư duy phải duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, yếu tố hợp tác công - tư là điều kiện then chốt để tập hợp sức mạnh, nguồn lực các bên, vì vậy trong mọi khâu phải có vai trò của phía tư nhân một cách chủ động.

Thứ tư, xây cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phải có cơ chế giám sát và phải công khai, minh bạch cơ chế này để người dân, doanh nghiệp có thể biết và phản hồi thông tin từ thực tiễn.

TUẤN VIỆT