BizLIVE - Theo các chuyên gia, hoạt động sản xuất ngưng trệ kết hợp với hoạt động vận tải đình trệ là những điểm tắc nghẽn chính trong các chuỗi cung ứng, và có thể để lại hậu quả cần giải quyết trong năm 2022.
20% đơn hàng FDI chuyển khỏi Việt Nam, cần làm gì để nhanh chóng nối lại chuỗi cung ứng?
80% các nhà máy sản xuất dệt may, da giày tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, An Giang, Kiên Giang… vừa qua phải tạm ngừng hoạt động do dịch COVID-19 (Ảnh minh hoạ)
Trong khuôn khổ Tọa đàm tham vấn chuyên gia về kinh tế xã hội do Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì, nhóm các chuyên gia từ Đại học Kinh tế quốc dân có tham luận đáng chú ý về thực trạng của các chuỗi cung ứng hiện nay.
Dẫn số liệu từ báo cáo của Tổng cục Thống kê (TCTK), nhóm chuyên gia cho biết, tính chung 6 tháng đầu năm 2021, số doanh nghiệp chế biến, chế tạo tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 4.225 doanh nghiệp, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2020; doanh nghiệp chế biến, chế tạo hoàn tất thủ tục giải thể là 1.138 doanh nghiệp, tăng 29,8%.
Theo kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý 3/2021 mà TCTK vừa thực hiện trên 6.500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, có tới 89,8% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm chính tăng và giữ nguyên và chỉ có 10,2% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất giảm. Trong khi đó, khảo sát quý 2/2021 so với quý 1 có tới 91,0% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất tăng và giữ nguyên, 9,0% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất giảm. 
Theo nhóm chuyên gia, chuỗi cung ứng ngành chế tạo chế biến đã bị gián đoạn một phần do tác động của đại dịch COVID-19. Tác động này mạnh mẽ nhất vào tháng 8 và ảnh hưởng nghiêm trọng tại các khu vực TP.HCM, Bình Dương Đồng Nai.

Các chỉ số này cho thấy các công đoạn hạ nguồn của chuỗi cung ứng (xuất khẩu và bán lẻ) đang bị thu hẹp; công đoạn thượng nguồn (nhập khẩu, trong đó có nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện) có xu hướng mở rộng. Nguyên nhân có thể là các nhà sản xuất (nhập khẩu) vẫn phải tiếp tục thực hiện các hợp đồng ký kết trước đó.

Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất bị ngưng trệ (chỉ số sản xuất thấp, chỉ số sử dụng lao động thấp, đặc biệt là rất thấp ở khu vực TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương). Kết hợp với hoạt động vận tải bị đình trệ, một phần có thể do chi phí vận tải cao, hoạt động vận tải hoạt động dưới công suất do dịch thể hiện ở chỉ số vận tải trong nước và quốc tế đều giảm mạnh.

Bức tranh trên có thể phản ánh một số điểm tắc nghẽn chính trong các chuỗi cung ứng, và có thể để lại một số hậu quả cần giải quyết trong năm 2022.

20% ĐƠN HÀNG FDI CHUYỂN KHỎI VIỆT NAM
Theo như kiến nghị của các doanh nghiệp FDI gửi Thủ tướng và lãnh đạo các địa phương, 20% đơn hàng đã chuyển khỏi Việt Nam và không dừng để chờ đợi Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư, xóa bỏ giãn cách, đảm bảo an toàn cho lao động và lương thực thực phẩm, di chuyển an toàn khi có “thẻ xanh”.
Việc thực hiện giãn cách xã hội kéo dài theo chỉ thị 16 của Chính phủ tại các tỉnh phía Nam cũng đã khiến 80% các nhà máy sản xuất dệt may, da giày tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, An Giang, Kiên Giang… là những nơi tập trung nhiều doanh nghiệp lớn trong các khu công nghiệp, phải ngừng sản xuất do không đủ điều kiện thực hiện quy chế “3 tại chỗ” và “một cung đường, hai điểm đến”.
Tại các địa phương miền Trung và miền Bắc, các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may, da giày chỉ hoạt động với công suất 50%-70 %, do giãn cách xã hội và thiếu lao động. Khoảng 40% doanh nghiệp có đủ điều kiện và dám thực hiện điều kiện 3 tại chỗ.
Đối với các doanh nghiệp còn hoạt động, trong bối cảnh như vậy đã buộc phải giảm sản lượng do phải giảm số lao động làm việc để thực hiện giãn cách, đồng thời phát sinh nhiều chi phí do đứt gãy chuỗi cung nguyên phụ liệu, chi phí phòng chống COVID-19 (xét nghiệm, tiêm chủng, lo ăn, ở 3 tại chỗ cho người lao động). Nhiều lao động bỏ về quê tránh lây lan dịch bệnh và khó khăn trong việc đi lại, di chuyển giữa các địa phương do phong tỏa, giản cách xã hội.
Cùng với đó, tình trạng thiếu container rỗng, chi phí logistics và vận chuyển tàu biển quốc tế tăng cao (gấp 5-10 lần) xảy ra từ năm 2020 chưa trở về bình thường cùng với chi phí nhiên liệu và giá nguyên phụ liệu nhập khẩu tăng cao đã ảnh hưởng nhiều tới sản xuất, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Trong năm 2020, ảnh hưởng dịch COVID-19, sức mua giảm, các đối tác nước ngoài yêu cầu giảm giá 20%-30%. Nhiều doanh nghiệp muốn duy trì công ăn việc làm cho người lao động nên vẫn tổ chức sản xuất, vẫn chấp nhận đơn hàng với giá thấp, thậm chí đơn hàng nhận được đến cuối năm 2020.
Bước sang đầu năm 2021, ngành may mặc đã hồi phục, sức mua toàn cầu tăng, đơn hàng nhiều với giá tốt hơn nhưng doanh nghiệp đã phải chịu áp lực lớn, đó là giá cũ đã ký - giá thấp cho năm 2021.
Qua thực tiễn phòng chống dịch và tình hình sản xuất kinh doanh như vậy, 14 hiệp hội ngành hàng đã có kiến nghị, tập trung ở các nội dung: Đề nghị thống nhất quản lý trên toàn quốc về quy định giãn cách, giao thông, nhân sự chống dịch, xét nghiệm, tự chủ về mô hình và phương thức sản xuất trong tình trạng phòng chống dịch, chấp nhận 1 phần mềm quản lý khai báo, chấp nhận chứng từ, giấy tờ điện tử, scan… Đề nghị quản lý người nhiễm bệnh theo điểm chính xác, không quá rộng; đồng thời kiến nghị hỗ trợ tài chính, miễn giảm thuế phí và hỗ trợ các trạm y tế tại khu công nghiệp…
6 KHUYẾN NGHỊ ĐỂ PHỤC HỒI NỀN KINH T
Trước tình trạng trên, nhóm chuyên gia cũng đưa ra một số khuyến nghị để phục hồi lại chuỗi cung ứng.
Cụ thể, cần hay đổi quan điểm chống dịch và kế hoạch chống dịch phải đồng bộ nhất quán mới có thể mở cửa trở lại.
Cũng như, đẩy nhanh tiêm vaccine đặc biệt cho cả ngư dân, nông dân và cho phép sử dụng lao động an toàn, tạo nguồn lao động xanh để doanh nghiệp và các hộ nông ngư nghiệp được quyền thuê lao động đảm bảo hạt động trở lại khi đủ điều kiện. Cho phép tự chủ hoạt động và thực hiện phòng chống dịch khi có đủ khoảng cách không gian dãn cách được phép hoạt động độc lập, tự thực hiện các điều kiện 5K, test nhanh và thường xuyên, khai báo đầy đủ với cơ quan quản lý
Cần có chính sách, lộ trình cụ thể, từ việc đào tạo đội ngũ y tế cộng đồng đủ mạnh, có nhiều kịch bản phản ứng nhanh và có nguyên tắc, chỉ tiêu và quy trình chuyển đổi từ trạng thái từ “phòng bệnh” sang “chữa bệnh”. Ở mức độ thấp tỷ lệ lây nhiễm chưa cao kích hoạt chương trình phòng bệnh khu vực, chuyển đổi sang chữa bệnh, phát huy toàn bộ hệ thống y tế cả nhà nước và tư nhân.
Khi mở cửa cũng cần có chính sách đồng bộ, kế hoạch thống nhất, có bộ tiêu chí đánh giá đủ điều kiện và mở cửa từng bước. Linh hoạt trong phản ứng với dịch bệnh. Chính phủ và chính quyền các địa phương, thành phố một mặt phải có chính sách kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp (thuế, lãi suất, mặt bằng, các khoản phí và lệ phí...) để khôi phục lại chuỗi cung ứng trong bối cảnh “sống chung với dịch” khi người dân và người lao động đã đạt được sự miễn dịch cộng đồng.
Đồng thời, có các chính sách khuyến khích doanh nghiệp hình thành chuỗi cung ứng ngắn, thay thế nguồn hàng nhằm phát huy mọi nguồn lực trong nước và nguồn tại chỗ, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu do bị đứt gãy vì COVID-19.
Nhóm chuyên gia cũng khuyến nghị, Chính phủ và chính quyền các địa phương phải rà soát lại toàn bộ các chính sách và biện pháp trong thời gian qua trong quản lý và điều hành nền kinh tế để sửa đổi, bổ sung kịp thời các chính sách, biện pháp cho phù hợp bối cảnh mới như chính sách thu hút lao động về trở lại sản xuất, chính an sinh xã hội đối với người lao động, đặc biệt là chính sách nhà ở cho lao động tại các khu công nghiệp không thể như trước đại dịch.
Cần có các chính sách hậu cần, logistics của từng địa phương, thành phố bài bản hơn theo các trung tâm logistics địa phương và được quan tâm tâm đầu tư nhiều hơn như các phương thức vận chuyển, phương tiện vận chuyển, kho hàng, bổ sung mặt hàng dự trữ Quốc gia và nâng tỷ lệ mức dự trữ Quốc gia, điều chỉnh Luật dự trữ Quốc gia 2013 và xây dựng chiến lược dự trữ Quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045 cho phù hợp với bối cảnh mới. 
Chính phủ, các cơ quan ban ngành, địa phương và thành phố cần có sự tham gia xây dựng và phản biện chính sách của các bên liên quan, phổ biến và nhân rộng chính sách hiệu quả nhanh chóng và kịp thời, cần tiếp tục đẩy mạnh khen thưởng, biểu dương những tấm gương xuất sắc trong tuyến đầu phòng chống COVID-19. 
Về biện pháp cụ thể cho từng nhóm ngành, nhóm chuyên gia nhấn mạnh, Chính phủ cần kiên quyết loại bỏ các thủ tục hành chính làm đứt gẫy chuỗi cung ứng từ Trung ương tới địa phương, không xử lý vội vàng không tuân theo quy luật kinh tế thị trường gây mất niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Cũng như, khôi phục lại nguồn nhân công là lợi thế cạnh tranh hiện hữu và thực hiện mọi chính sách an sinh xã hội đảm bảo nơi ăn chốn ở cho người lao động an toàn mùa dịch. Đối với lao động, cần có phép di chuyển khi đủ điều kiện an toàn. Đối với hàng hóa, cần thuận lợi cả chiều nhập nguyên vật liệu, lưu thông nội địa và chiều xuất khẩu hàng hóa.
Về logistics cần tạo điều kiện lưu thông hàng hóa thông suốt, đảm bảo tính liên thông liên vùng. Giảm chi phí liên quan đến sử dụng hạ tầng cảng, kho bãi, phí liên quan vận tải bên cạnh các khoản thuế, phí… mà các hiệp hội đã kiến nghị.
Đối với quốc tế, cần có ý kiến và thực hiện các can thiệp vào việc độc quyền và nâng giá vận chuyển quốc tế. Duy trì cơ chế 1 đổi 1 với các container xuất khẩu là điều kiện cam kết của các công ty vận tải quốc tế tránh hiện tượng thiếu container rỗng, thành lập nhà máy và tăng năng lực sản xuất container tại Việt Nam. Phát triển các line vận chuyển quốc tế độc lập. Tăng cường liên kết với các quốc gia có tiềm lực vận chuyển quốc tế để duy trì sự hỗ trợ khi cần thiết.
Bên cạnh đó, Chính phủ cần có thêm các biện pháp hỗ trợ thuế, phí cho doanh nghiệp nhằm phục hồi chuỗi cung ứng sau COVID-19. Khơi thông luồng vốn, tạo điều kiện tiếp cận luồng tài chính mới cho chu kỳ kinh doanh mới.

HẠ AN