Theo đánh giá của Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam (VGTA), thị trường vàng trang sức Việt Nam hiện nay vẫn còn manh mún, kém phát triển. 
Doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ: Khó khăn bủa vây
Ảnh minh họa.
Ngoài một số doanh nghiệp lớn, như SJC, PNJ, DOJI… nhiều doanh nghiệp trong số còn lại chủ yếu gia công và kinh doanh hàng trang sức nhập ngoại, bởi doanh nghiệp chưa được nhập khẩu vàng nguyên liệu và chưa được tiếp cận vốn vay ngân hàng để sản xuất kinh doanh vàng trang sức.

Thiếu vàng nguyên liệu

Để thực hiện chủ trương khuyến khích sản xuất kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ theo Nghị định 24, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 164 ban hành biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế. Theo đó, từ ngày 1/1/2014 thuế suất xuất khẩu đã giảm từ 10% xuống 0% đối với tất cả các loại vàng trang sức, mỹ nghệ.

Tuy nhiên, theo VGTA, từ hơn 2 năm nay, các doanh nghiệp không được phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ, dù tại khoản 3 Điều 14 Nghị định 24/NĐ-CP cho phép. Điều này buộc các doanh nghiệp phải mua vàng nguyên liệu trôi nổi trên thị trường, vô hình trung đã tiếp tay cho giới buôn lậu vàng, tác động tiêu cực việc điều hành chính sách tiền tệ của Nhà nước.

Theo ước tính của VGTA, nhu cầu nhập khẩu vàng nguyên liệu hằng năm cho sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ ở Việt Nam hiện khoảng 10-15 tấn. Nếu NHNN cho phép các doanh nghiệp nhập khẩu vàng nguyên liệu thì vấn đề nhập siêu cũng không đáng ngại. Bởi hoạt động xuất khẩu vàng nữ trang sẽ góp phần tái tạo số lượng ngoại tệ đã được sử dụng để nhập khẩu vàng nguyên liệu. Đồng thời góp phần giảm được chênh lệch giá vàng cũng như hạn chế nguy cơ nhập lậu vàng, kể cả vàng trang sức, mỹ nghệ, ông Nguyễn Thành Long – Chủ tịch VGTA phân tích.

Theo quy định hiện hành, chỉ có một số doanh nghiệp lớn có đủ điều kiện nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức và nếu được nhập khẩu thì các doanh nghiệp này không được phép bán lại cho các doanh nghiệp khác. Như vậy, các doanh nghiệp còn lại không biết mua vàng nguyên liệu từ đâu. Vì vậy, theo quan điểm của VGTA, NHNN cần có chính sách hỗ trợ cho tất cả các doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vàng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Một khó khăn lớn đối các doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ là từ hơn 2 năm nay các doanh nghiệp không được tiếp cận tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Ông Nguyễn Thành Long, Chủ tịch VGTA cho rằng nếu NHNN tháo gỡ hai nút thắt nói trên, không những tạo cơ hội cho các doanh nghiệp có thể xuất khẩu được vàng trang sức, mỹ nghệ, mà còn góp phần kéo giá vàng trong nước sát với giá vàng quốc tế, giảm thiểu tình trạng nhập lậu vàng, tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo việc làm cho người lao động, và chắc chắn sẽ giảm áp lực kinh doanh vàng miếng.

Vì vậy, VGTA đã có kiến nghị NHNN xem xét cho phép các doanh nghiệp được nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ theo quy định tại Nghị định 24. Đối với những doanh nghiệp không đủ điều kiện nhập khẩu vàng, NHNN có thể ủy thác cho một số doanh nghiệp có đủ điều kiện nhập khẩu rồi bán lại cho các doanh nghiệp khác theo đúng quy định của NHNN, ông Long cho biết. Để đảm bảo việc cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu được công khai, minh bạch và sát với yêu cầu của các doanh nghiệp, đề nghị NHNN có thể xem xét nên có sự tham gia của VGTA như nhiều ngành nghề khác các bộ quản lý nhà nước đã và đang thực hiện.

Loay hoay với quy định

Từ tháng 6/2014, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nữ trang phải thực hiện thông tư số 22/2013/TT-BKHCN quy định về quản lý, đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ với nhiều quy định mới khá "hóc búa”.

Nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức đồng tình với việc Thông tư 22 được ban hành, nhưng vẫn đang loay hoay với thông tư này. Nhiều doanh nghiệp lo ngại về một số quy định trong thông tư khó khả thi cũng như thời điểm thực thi thông tư chưa hợp lý. Cụ thể, trong thông tư yêu cầu tỉ lệ sai số cho phép về hàm lượng vàng giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp kinh doanh chỉ từ 0,1-0,3% (trước nay con số này từ 1-3% để bù đắp chi phí sản xuất, nhân công, nguyên liệu vàng). Nếu sai số cho phép quá ít, sẽ làm đội chi phí giá sản phẩm lên từ 3-5 lần, trong khi sức mua thấp như hiện nay doanh nghiệp sẽ càng khó khăn.

Ngoài ra, các doanh nghiệp cho rằng Thông tư 22 quy định mức phạt tiền cao gấp 15 lần/sản phẩm là quá cao. Trong khi đến nay chưa có đơn vị nào đủ tư cách pháp lý để đo lường sự đạt chuẩn của chất lượng vàng thì liệu có xảy ra tình trạng phạt oan hay không. Hiện số vàng nữ trang tồn kho rất lớn và đang được lưu hành nhiều trong dân. Việc áp dụng thông tư vào tháng 6 tới đây sẽ khiến thị trường tồn kho hàng triệu sản phẩm vàng trang sức, bởi do thực thi theo tiêu chuẩn cũ nhiều sản phẩm chắc chắn không phù hợp với quy định hiện nay.

Ông Nguyễn Văn Dưng - Chủ tịch Hội Mỹ nghệ Kim hoàn TPHCM cho biết, nhiều doanh nghiệp trong hội đã có đề xuất nên hoãn thời gian thực hiện Thông tư 22 sang năm 2015 để các doanh nghiệp có thêm thời gian tiêu thụ hết số sản phẩm còn tồn đọng. Đề xuất này của các doanh nghiệp không phải thiếu hợp lý, do tính chất, nội dung trong quy định về sai số cho phép hàm lượng vàng ở quy định mới và quy định cũ là khác nhau. Tuy nhiên, theo giới chuyên gia, nếu trì hoãn thêm thời gian cho doanh nghiệp, cũng đồng nghĩa với việc người tiêu dùng sẽ có thêm thời gian... bị ảnh hưởng quyền lợi.

Theo Lao động