BizLIVE - TS.Phước cho rằng, có thể giảm lãi suất điều hành của NHNN ít nhất 1%, mở rộng và nới lỏng điều kiện cho vay tái chiết khấu, tái cấp vốn...
TS. Trương Văn Phước: Có thể giảm lãi suất điều hành thêm ít nhất 1%
TS. Trương Văn Phước, Nguyên quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.
Tham luận tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2021: "Phục hồi và phát triển bền vững" diễn ra hôm nay (5/12), TS. Trương Văn Phước, Nguyên quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho rằng, Việt Nam cần có một số gói hỗ trợ tài chính đủ lớn, đủ rộng và dài để giúp doanh nghiệp và người dân trong nhiều địa bàn và lĩnh vực có thể phục hồi được cả thể chất, tinh thần và năng lực kinh doanh sau cơn “bạo bệnh” và không loại trừ khả năng có thêm những đợt dịch bùng phát mới có thể còn khốc liệt hơn. 
“Thiếu các gói hỗ trợ như vậy, không loại trừ kinh tế Việt Nam sẽ rơi vào một thời kỳ trì trệ lâu dài, đánh mất nhiều lợi thế và cơ hội vươn tới các mục tiêu phát triển đã đề ra”, TS. Phước nhấn mạnh trong tham luận.
Vẫn còn dư địa điều hành chính sách tiền tệ
Với mức lạm phát đến cuối tháng 10/2021 vẫn thấp (CPI < 2%, lạm phát cơ bản < 1%) và có khả năng dưới 3% đến cuối năm 2021, TS.Phước cho rằng, có thể giảm lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ít nhất 1%, mở rộng và nới lỏng điều kiện cho vay tái chiết khấu, tái cấp vốn..., nhờ đó mà đưa lãi suất cho vay thương mại bình quân giảm xuống.
Bên cạnh đó, chuyên gia cũng cho rằng, một số các chỉ tiêu như tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn nên được duy trì từ nay đến ít nhất cuối năm 2023 nhằm giảm áp lực về tăng lãi suất huy động. 
Về hệ số rủi ro tín dụng, trong khi vẫn đảm bảo hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR thì các doanh nghiệp chịu tổn thất trong đại dịch có thể có hệ số rủi ro tín dụng thấp hơn mức hiện nay để giúp các doanh nghiệp này tiếp cận được vốn tín dụng. Tiếp tục cơ chế khoanh nợ, giãn nợ đến giữa năm 2023.
Về mặt chính sách, TS. Phước cho rằng, Quốc hội cần xem xét việc đặt ra mức lạm phát mục tiêu bình quân trong khoảng thời gian 3-5 năm. 
“Không nhất thiết chính sách tiền tệ phải điều hành sao cho lạm phát hàng năm dưới mức mục tiêu (4%) như hiện nay. Lạm phát trong khoảng 3-5 năm (dù có năm cao năm thấp) nhưng bình quân dưới mức 4% là được”, TS. Phước nêu ý kiến.
Chuyên gia cũng cho rằng, cần hỗ trợ chính sách tài khóa để có nguồn lực tài chính trong các gói kích thích, hỗ trợ. 
“Với xu hướng lãi suất quốc tế đang tăng dần, nên việc vay nợ nước ngoài chưa thật phù hợp thì nguồn tài chính chủ yếu là vay nợ trong nước. Tham khảo kinh nghiệm các nước về việc NHTW vừa mua trực tiếp trái phiếu kho bạc vừa tiến hành hoạt động Repo (mua đi, bán lại trái phiếu) thì nên xem xét việc NHNN mua trái phiếu Chính phủ, vừa là hành động hỗ trợ ngân sách nhà nước vừa nắm công cụ để điều hành CSTT như bơm tiền (mua TPCP), hút tiền (bán TPCP) cho các tổ chức tín dụng”, ông Phước đề xuất.
Chính sách tài khóa cần linh hoạt
Theo chuyên gia, hiện dư địa chính sách tài khóa còn rất lớn. Trong đó, thu ngân sách dự kiến cả năm vẫn tăng so với dự toán; bội chi ngân sách và trần nợ công vẫn duy trì trong mức cho phép. Nợ công vẫn thấp so với ngưỡng an toàn và với mức trần đã được Quốc hội phê chuẩn.
Đồng thời, khả năng huy động nguồn vốn tài chính trong nước vẫn khá dồi dào khi mà lãi suất trái phiếu Chính phủ quanh mức 2,09%/năm đối với kỳ hạn 10 năm. Trong khi lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cùng kỳ hạn đã lên trên 1,6%/năm.
Ngân hàng Trung ương dùng tiền cung ứng hoặc tiền gửi của các TCTD, bao gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc hay tiền gửi thanh toán để mua trái phiếu Chính phủ. Đây là quan hệ trên thị trường sơ cấp.
Theo TS. Trương Văn Phước, các hoạt động trên thị trường thứ cấp nên để các nhà đầu tư, nhất là NHTW tham gia hoạt động. Việc Kho bạc Nhà nước gần đây triển khai mua lại trái phiếu Chính phủ do tiền ngân sách tạm thời nhàn rỗi, lẽ ra là hoạt động của NHTW.
 
Trước đó, trong năm 2020, NHNN đã có 3 lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành với lần điều chỉnh gần đây nhất là vào cuối tháng 9/2020. Theo đó, tổng mức giảm lên tới 1,5 đến 2,0%/năm lãi suất điều hành (là một trong các ngân hàng trung ương có mức cắt giảm lãi suất điều hành lớn nhất trong khu vực), giảm 0,6 đến 1,0%/năm trần lãi suất tiền gửi; giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên sau 3 lần điều chỉnh.
Hiện, lãi suất tái cấp vốn đang được duy trì ở mức 4,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu ở mức 2,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 5,0%/năm, lãi suất chào mua giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ thị trường mở còn 2,5%/năm.
Những mức lãi suất trên hiện cao hơn nhiều so với lãi suất giao dịch thực tế trên thị trường liên ngân hàng suốt thời gian qua.

TRẦN THÚY