BizLIVE -
Tại các thị trường phát triển, trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) có vị trí danh dự và chiếm ưu thế, là kênh dẫn vốn chủ đạo cho nền kinh tế. Còn tại Việt Nam, TPDN mới chỉ ở giai đoạn sơ khởi.
Trái phiếu doanh nghiệp: Trông người, ngẫm ta…
Ảnh minh họa.
Ngày 12/5/2020, lần đầu tiên trong lịch sử, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tuyên bố sẽ thực hiện chương trình mua trái phiếu doanh nghiệp, cả cũ lẫn mới, qua đó tác động mạnh đến thị trường. Đây được đánh giá là liệu pháp mạnh trong bối cảnh nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19.
So sánh thường khập khiễng, nhưng sự kiện trên ở thị trường Mỹ cho thấy TPDN tại Việt Nam vẫn còn một quãng đường rất xa để phát triển, để định hình vị thế cần có.
TPDN VIỆT NAM ĐANG ĐỨNG Ở ĐÂU?
Theo báo cáo của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2020, thị trường TPDN tiếp tục thể hiện tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, sau hiện tượng năm 2018 và 2019.
Cụ thể, đã có 818 đợt phát hành của 130 doanh nghiệp trong nửa đầu năm nay, với tổng giá trị phát hành đạt 156,32 nghìn tỷ đồng, tương đương với khoảng 6,7 tỷ USD. So với cùng kỳ 2019, tốc độ tăng trưởng ghi nhận tới khoảng 50%, thậm chí có thể sẽ còn cao hơn do các thông tin phát hành vẫn đang được công bố và thống kê.
Tính toán của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) cho thấy, tổng lượng TPDN lưu hành ước khoảng 783.000 tỷ đồng, tương đương 12,8% GDP lũy kế 12 tháng gần nhất. Quy mô này đã vượt xa mục tiêu 7% GDP vào năm 2020 mà Chính phủ đề ra trong đề án phát triển trước đây.
Dù vậy, nhìn ra bên ngoài, TPDN Việt Nam vẫn chỉ ở giai đoạn sơ khởi, cân đối thị trường tài chính Việt Nam vẫn như “đảo ngược” so với các thị trường phát triển. Tại các thị trường phát triển, tỷ lệ tín dụng trên GDP thấp, ngược lại tỷ lệ trái phiếu trên GDP áp đảo; còn tại Việt Nam thì ngược lại với chênh lệch quá lớn.
Theo thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tổng quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam (gồm cả TPCP và TPDN) tại 30/9/2019 là 95,37 tỷ USD, tương đương 37,6% GDP - là mức tương đương với Philippines nhưng còn cách khá xa Trung Quốc, Thái Lan (xấp xỉ 60% GDP). Các nước càng phát triển thì tỷ trọng kênh trái phiếu trên GDP càng lớn như Nhật Bản là 214% GDP, Hàn Quốc là 120% GDP...
Và dĩ nhiên, chưa thể so sánh được với ví dụ nói trên ở thị trường Mỹ, khi TPDN trở thành kênh kết nối nguồn lực chính, trở thành công cụ truyền dẫn liệu pháp mạnh của Fed đến nền kinh tế.
Nhưng nhìn sang một thị trường gần gũi hơn trong khối ASEAN, Malaysia là một điển hình để Việt Nam tham khảo. Từ những năm 1990, Chính phủ Malaysia đã sớm coi trọng kênh dẫn vốn TPDN, hoạch định các chính sách phát triển. Không lâu sau đó, từ năm 2000, giá trị phát hành TPDN đã vượt qua cả giá trị phát hành của trái phiếu chính phủ của nước này.
TĂNG TRƯỞNG MẠNH MẼ VẪN CẦN TẦM NHÌN XA
Trở lại với Việt Nam, TPDN đã có thâm niên hàng chục năm trên thị trường Việt Nam. Nó cũ với các ngân hàng thương mại (NHTM) - đối tượng nắm giữ chủ yếu và truyền thống. Nhân tố mới và kích thích ở đây khi thị trường này có thêm các chủ thể khác tham gia.
Báo cáo năm 2018 của Công ty Chứng khoán VCBS từng lưu ý: đã có sự chuyển dịch nắm giữ TPDN sang các công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư. Đây cũng là một cú hích chính yếu, khi làn sóng dịch chuyển cơ cấu danh mục thể hiện do cơ hội đầu tư vào trái phiếu Chính phủ (TPCP) không còn hấp dẫn như trước.
Thực tế, từ năm 2016 sang 2017, rồi đặc biệt trong 2019 và nửa đầu 2020, lãi suất TPCP liên tục giảm mạnh và sâu. Nếu như khoảng 5 năm trước, TPCP kỳ hạn 10 năm phải căng lãi suất lên cỡ 7%/năm để huy động thành công, thì đến 2019 và hiện chỉ còn quanh 2,7%/năm.
Nói cách khác, TPDN trở thành một điểm đến mới trong nhu cầu đa dạng danh mục đầu tư của các tổ chức tài chính. Nguồn cung cũng gia tăng nhanh chóng.
Bên cạnh đó, tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với các cam kết và hành động để thực hiện hội nhập thị trường tài chính sâu rộng, cũng giúp Việt Nam thu hút được nhiều dòng vốn đầu tư quốc tế đến từ các định chế, quỹ, tổ chức và cá nhân đầu tư lớn. Cơ hội để thăng hạng lên thị trường mới nổi theo xếp hạng MSCI từ thị trường cận biên của chứng khoán Việt Nam cũng đòi hỏi Việt Nam phải cải thiện ngày càng nhiều hơn hành lang pháp lý, nâng chất và lượng sản phẩm hàng hóa, bao gồm cả công cụ nợ lẫn cổ phiếu.
Nhà đầu tư nước ngoài, trong nước lẫn cá nhân đang ngày càng có nhiều lựa chọn hơn với hàng hóa trái phiếu và đa dạng hóa danh mục đầu tư như nêu trên. Song hành là nhu cầu huy động và sự sôi động của các đơn vị phát hành, các doanh nghiệp tư nhân lớn.
Không bó hẹp thị trường trái phiếu, đặc biệt TPDN, cũng là điều kiện tiên quyết giúp Việt Nam ngày càng củng cố nền tảng để mở rộng quy mô, giá trị của công cụ nợ và chứng khoán, phát triển xứng tầm 2 trụ cột song song, bền vững của thị trường vốn hiện đại.
Bên cạnh đề án phát triển thị trường mà Chính phủ đã hoạch định từ năm 2017, một dẫn chứng cụ thể cho tầm nhìn, kỳ vọng của Việt Nam cũng được dõi theo ở kế hoạch xây dựng TP.HCM trở thành trung tâm tài chính của cả khu vực. Kế hoạch này được giới chuyên môn đánh giá cao, mà trong đó không thể các chính sách kích hoạt thị trường TPDN mạnh để nâng tầm như thị trường tài chính Singapore.
 Tổng giá trị phát hành TPDN qua các năm, số liệu 6 tháng 2020 bao gồm TPDN phát hành ra công chúng (Đơn vị: nghìn tỷ đồng; nguồn: HSX, HNX, TCBS)
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TẤT YẾU
Như sự khởi đầu ở hầu hết các thị trường TPDN, các định chế tài chính mở đường, kích thích xu hướng phát triển. Đủ độ chín, TPDN mở rộng với sự tham gia của các nhà đầu tư cá nhân. Tại Việt Nam, xu hướng đó bắt đầu thể hiện, mà một trong những điểm thu hút đầu tiên là hấp dẫn lãi suất.
Theo thống kê của SSI, tính bình quân gia quyền theo giá trị phát hành năm 2019, lãi suất TPDN trung bình toàn thị trường là 8,8%/năm. Song, trong 2019 và hiện nay có khá nhiều TPDN lãi suất từ 10-11%/năm, cao hơn đáng kể so với lãi suất tiền gửi ngân hàng.
Trong đó, một cấu phần phát hành lớn, chiếm lớn nhất tại nhiều thời điểm thống kê, là trái phiếu của các NHTM. Chênh lệch lãi suất ở đây hấp dẫn, trong khi mức độ rủi ro được so sánh như gửi tiền ở chính ngân hàng - nhà phát hành trái phiếu.
Chênh lệch lãi suất cũng chính là điểm đang hậu thuẫn cho TPDN. Hậu thuẫn này có nền tảng là thanh khoản hệ thống NHTM đang dồi dào, dự báo tiếp tục thuận lợi trong 6 tháng cuối năm khi NHNN duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng thận trọng, chưa kể khả năng cơ quan này trở lại mua vào ngoại tệ và tạo thêm nguồn tiền cung ứng. Trong khi đó, tín dụng tăng trưởng thấp và chậm.
Những diễn biến trên đã và đang được cụ thể hóa bằng diễn biến sụt giảm của lãi suất huy động VND. Chênh lệch có lợi cho lãi suất TPDN theo đó càng tạo thêm sức hút nhà đầu tư.
Tuy nhiên, như trên, đang ở giai đoạn sơ khởi, thị trường TPDN Việt Nam còn những hạn chế về hạ tầng phát triển để tăng cường minh bạch, an toàn hơn nữa cho nhà đầu tư. Đây đang là yêu cầu hoàn thiện đặt ra cho các nhà hoạch định.
Như tại Hàn Quốc, nhận thấy vai trò quan trọng của TPDN trong huy động vốn, từ cả nửa thế kỷ trước, năm 1968, chính phủ nước này đã ban hành hẳn bộ luật khuyến khích thị trường vốn. Hay như trên, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường TPDN Malaysia được giải thích từ sự sớm chủ động khi năm 1990 và 1995 đã thành lập được 2 tổ chức về đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp để hỗ trợ và nắm bắt xu hướng của tương lai…
Với Việt Nam, TPDN cũng đang dần có được vị trí danh dự trong hoạch định chiến lược phát triển thị trường vốn của Chính phủ những năm gần đây. Các khung khổ pháp lý đang dần hoàn thiện và bám sát thực tiễn thị trường, như vừa qua là Nghị định 81 với bước quy hoạch mới nhằm củng cố thêm hướng an toàn, bền vững cho thị trường.
Dù vậy, như trên, nhìn ra bên ngoài, trông người và ngẫm ta, thị trường TPDN Việt Nam vẫn còn nhiều việc để làm để thực sự trở thành một kênh dẫn vốn hiệu quả, giá trị cho nền kinh tế, đặc biệt là khi xu hướng phát triển mạnh mẽ đã và đang thể hiện.

TRUNG ANH