BizLIVE -
384,96 nghìn tỷ đồng là tổng nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn thành nợ xấu, chưa bao gồm nợ được cơ cấu hỗ trợ khách hàng bởi COVID-19.
Chính phủ vừa có báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD).
Báo cáo này hoàn thành ngày 12/10, nhưng các dữ liệu mới chỉ cập nhật đến 30/6/2021. Dù vậy, có nhiều con số chi tiết về một quá trình xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD, cũng như bước đầu cho thấy tác động của COVID-19.
BizLIVE giới thiệu bạn đọc những dữ liệu này, cũng như hướng đề xuất tiếp tục xử lý của Ngân hàng Nhà nước.
Cú huých lớn từ Nghị quyết 42
Theo báo cáo trên, đến cuối tháng 6/2021, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD là 1,73%, giảm so với thời điểm trước khi triển khai Nghị quyết số 42.
Tính từ cuối năm 2017 (Nghị quyết 42 được ban hành ngày 21/6/2017) đến 30/6/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 677,0 nghìn tỷ đồng nợ xấu nội bảng, trong đó: Nợ xấu do các TCTD tự xử lý là 554,6 nghìn tỷ đồng (chiếm 81,92%); Nợ xấu bán cho VAMC là 110,3 nghìn tỷ đồng (chiếm 16,29%); Nợ xấu bán cho tổ chức, cá nhân khác là 12,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 1,79%).
Tính riêng từ 30/6/2020 đến 30/6/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 188,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu nội bảng.
Đến cuối tháng 6/2021, tổng nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và các khoản tiềm ẩn thành nợ xấu tăng 2,8% so với cuối năm 2020 và có số dư 384,96 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 3,66% so với tổng dư nợ cho vay, đầu tư.
Quy mô trên, nếu tính thêm các khoản nợ được cơ cấu và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 01 (đã sửa đổi, bổ sung) có nguy cơ chuyển thành nợ xấu do ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 thì tỷ lệ này là 7,21% (cuối năm 2020 là 5,08%).
Xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết số 42 thông qua hình thức khách hàng trả nợ cao hơn nhiều (chiếm 38,51% tổng nợ xấu theo Nghị quyết số 42 đã xử lý) so với trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực (tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng trả trung bình năm từ 2012-2017 là khoảng 22,8%).
Theo báo cáo của các TCTD, tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 của toàn hệ thống các TCTD đến 30/6/2021 là 425,5 nghìn tỷ đồng, giảm 3,4% so với cuối năm 2020. Lũy kế từ 15/8/2017 đến 30/6/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 354,6 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42.
Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 183,0 nghìn tỷ đồng (chiếm 51,61% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý). Xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết số 42 là 93,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 26,37% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý. Xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB) là 78,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 22,02% tổng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 đã xử lý).
Trong vòng một năm qua, tính riêng từ thời điểm 30/6/2020 đến thời điểm 30/6/2021, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 55,0 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42.
Tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42 được xử lý từ 15/8/2017 đến 30/6/2021 đạt trung bình khoảng 5,95 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 2,43 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình tại thời điểm trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực (trung bình từ năm 2012 - 2017, hệ thống xử lý được khoảng 3,52 nghìn tỷ đồng/tháng).
Trước khi có Nghị quyết số 42, nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua xử lý TSBĐ và khách hàng trả nợ còn chưa cao. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực, xử lý nợ xấu nội bảng thông qua hình thức khách hàng trả nợ tăng cao.
Cụ thể, từ 15/8/2017 đến 30/6/2021, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết số 42 thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 136,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 38,51% tổng nợ xấu theo Nghị quyết số 42 đã xử lý), cao hơn nhiều so với tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu trước khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực (tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng trả trung bình năm từ 2012-2017 nợ/tổng nợ xấu là khoảng 22,8%).
Kết quả mua bán, xử lý nợ xấu của VAMC
Đối với các khoản nợ mua bằng TPĐB, triển khai Đề án nâng cao năng lực cho VAMC, lũy kế từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến 30/6/2021, VAMC mua nợ xấu bằng TPĐB đạt 101.016 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng tương ứng với giá mua nợ là 98.371 tỷ đồng (tính từ thời điểm 30/6/2020 đến 30/6/2021, VAMC đã mua nợ xấu bằng TPĐB đạt 32.139 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng tương ứng với giá mua nợ là 31.644 tỷ đồng).
Đối với các khoản nợ mua theo giá trị thị trường (GTTT), lũy kế từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến 30/6/2021, VAMC đã mua được 336 khoản nợ đối với 192 khách hàng với dư nợ gốc đạt 11.541 tỷ đồng và giá mua nợ đạt 11.628 tỷ đồng (tính từ thời điểm 30/6/2020 đến 30/6/2021, VAMC đã mua được 231 khoản nợ của 139 khách hàng với với dư nợ gốc mua đạt 3.531 tỷ đồng và giá mua đạt 3.420 tỷ đồng).
Sau khi mua nợ theo GTTT, VAMC đã triển khai ngay các giải pháp xử lý nợ phù hợp để thu hồi nợ (thường xuyên đôn đốc khách hàng trả nợ, áp dụng các biện pháp cơ cấu lại nợ, thu giữ, bán đấu giá, bán thỏa thuận tài sản, hỗ trợ bên mua tài sản hoàn thiện các thủ tục pháp lý liên quan đến chuyển nhượng dự án…).
Triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu quy định tại Nghị quyết số 42, VAMC tiếp tục thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu. Lũy kế từ năm 2013 (từ khi VAMC được thành lập) đến 30/6/2021, VAMC đã phối hợp cùng các TCTD xử lý nợ với giá trị thu hồi nợ đạt 177.639 tỷ đồng (tính từ thời điểm 30/6/2020 đến 30/6/2021, VAMC đã xử lý nợ với giá trị thu hồi đạt 23.542 tỷ đồng).
Đặc biệt, từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực, kết quả thu hồi nợ của VAMC đạt 116.335 tỷ đồng, bằng 65,49% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế từ năm 2013 đến 30/6/2021.
Về hoạt động đấu giá khoản nợ, TSBĐ tại VAMC cũng được đẩy mạnh theo hướng tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Từ khi Nghị quyết số 42 có hiệu lực đến 30/6/2021, VAMC đã tổ chức đấu giá thành công 21 tài sản với tổng giá trị trúng đấu giá đạt 2.297 tỷ đồng; đồng thời, VAMC đã thu giữ, nhận bàn giao một số TSBĐ có giá trị lớn, góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý các khoản nợ tại TCTD.
Đề xuất có luật riêng hỗ trợ xử lý nợ xấu
Thừa ủy quyền Thủ tướng ký báo cáo, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng nêu không ít khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc thực thi các giải pháp/biện pháp quy định tại Nghị quyết số 42.
Là nghị quyết thí điểm nên hiệu lực chỉ kéo dài 05 năm, đến ngày 15/8/2022 Nghị quyết số 42 sẽ hết hiệu lực thi hành.
Theo Thống đốc, trong trung và dài hạn, nếu dịch bệnh COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp với sự xuất hiện của các biến chủng mới nguy hiểm hơn, mức độ lay lan nhanh hơn thì sẽ dẫn đến khả năng trả nợ của khách hàng vay suy giảm, nợ xấu của các TCTD có khả năng tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới.
Do đó, mục tiêu phấn đấu xử lý và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD ở mức dưới 2% (cuối năm 2020, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 1,69%) trong thời gian tới là thách thức không nhỏ đối với ngành ngân hàng, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương.
như BizLIVE đề cập vừa qua, Nghị quyết số 42 là nghị quyết thí điểm nên hiệu lực chỉ kéo dài 05 năm, đến ngày 15/8/2022, Nghị quyết số 42 sẽ hết hiệu lực thi hành.
Khi hết hiệu lực thi hành, toàn bộ cơ chế về xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 đang được thực hiện sẽ chấm dứt, việc xử lý nợ xấu của TCTD sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan, không được ưu tiên áp dụng một số chính sách được quy định tại Nghị quyết số 42.
Theo Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, điều này sẽ tác động lớn đến quá trình xử lý nợ xấu của các TCTD, VAMC, cũng như quá trình tái cơ cấu TCTD đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 nêu trên.
Do đó, tại báo cáo trên, để tiếp tục nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu, Chính phủ đề xuất Quốc hội xem xét việc rà soát, nghiên cứu để luật hóa các chính sách quy định tại Nghị quyết số 42 để tiếp tục triển khai, áp dụng trong xử lý nợ xấu của TCTD theo hướng ban hành một luật riêng quy định về xử lý nợ xấu.

TRUNG CHÍNH