BizLIVE - HSBC tin rằng ngành ngân hàng Việt Nam cần nhanh chóng khôi phục lại việc cải tổ và xây dựng tiềm lực vốn tốt hơn, đặc biệt tại "Big 4", nhằm ngăn rủi ro tiềm tàng.
Nhận định cần ngăn những rủi ro tiềm tàng, HSBC nói gì về chất lượng tín dụng “Big 4” ngân hàng Việt Nam?
Cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR) qua tăng vốn ở "Big 4" đang là vấn đề đặt ra (Hình minh họa).
Bộ phận Global Research của HSBC vừa đưa ra báo cáo “Vietnam At A Glance - What do banks' balance sheets tell us?” (tạm dịch “Bảng cân đối kế toán của các ngân hàng nói lên điều gì?”).
BizLIVE giới thiệu tóm tắt báo cáo trên, tập trung ở một số nội dung chính:
Nợ của hộ gia đình vẫn có khả năng chịu tác động xấu, đặc biệt khi thị trường lao động gặp ảnh hưởng tiêu cực;
Mặc dù HSBC không nhận thấy có rủi ro lớn với lĩnh vực ngân hàng, nhưng Việt Nam vẫn cần đẩy mạnh các cải cách đang có để gia tăng nguồn vốn;
Về dữ liệu, dữ liệu bên ngoài vẫn tiếp tục cho thấy dấu hiệu tích cực, tuy nhiên, cần xem xét những nguy cơ bùng phát dịch COVID-19 mới gây ảnh hưởng đến phục hồi kinh tế trong nước.
Lý do nhìn vào “Big 4” ngân hàng
Vì tầm quan trọng đối với nền kinh tế, đã đến lúc cần đánh giá lại sức khỏe của ngành ngân hàng Việt Nam.
Theo lý giải của HSBC, do thiếu những dữ liệu ngân hàng cập nhật nhất, HSBC đã phân tích bảng cân đối kế toán của các ngân hàng quốc doanh (SOE) thuộc "Big 4", vì những ngân hàng này chiếm một nửa tổng dư nợ. 
Trong khi tăng trưởng nợ hộ gia đình ở mức độ vừa phải vào năm 2020, đòn bẩy tiêu dùng tăng cao vẫn là một mối lo ngại lớn, đặc biệt khi sự suy yếu của thị trường lao động vẫn tiếp diễn. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp toàn phần giảm, phần lớn lực lượng lao động đang là lao động phi chính thức, với mạng lưới an sinh xã hội còn hạn chế.
Đừng quên cải cách, xây dựng vùng đệm vốn
HSBC cũng xem xét hai chỉ số ngân hàng quan trọng: nợ xấu (NPL) và tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Mặc dù nợ xấu được thể hiện trong bảng cân đối kế toán chỉ tăng nhẹ vào năm 2020, nhưng cũng nên lưu ý đến rủi ro nợ xấu có hệ thống đang gia tăng. Trong khi đó, Việt Nam vẫn là nước ASEAN duy nhất trong phạm vi nghiên cứu của HSBC chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn Basel II. Mặc dù không thấy rủi ro ngay lập tức, nhưng việc tăng tốc cải cách sẽ giúp xây dựng vùng đệm vốn và ngăn ngừa các cú sốc tiêu cực trong tương lai.
Covid-19 có thể gây rủi ro mất lợi nhuận
Khi đại dịch bùng phát cách đây một năm, Việt Nam đã bước vào trạng thái phong tỏa toàn quốc nghiêm ngặt nhất trong ba tuần. Một năm sau, nhờ vào các biện pháp kiểm soát virus thành công, các chỉ số kinh tế bên ngoài tiếp tục tươi sáng. Hiệu ứng cơ sở cũng góp phần tác động, nhưng xuất khẩu và sản xuất công nghiệp vẫn là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của Việt Nam. Trong khi đó, mặc dù giá dầu thế giới đang tăng, áp lực lạm phát đã được giảm bớt. Điều đó cho thấy những thách thức của COVID-19 vẫn tồn tại, có thể gây ra những rủi ro mất lợi nhuận mới đối với sự phục hồi vừa mới chớm của kinh tế trong nước.
Nhìn từ nhóm 4 ngân hàng lớn nhất
Nhìn chung, Việt Nam luôn được đánh giá đã kiểm soát dịch Covid-19 rất tốt. Cùng với Trung Quốc và Đài Loan, Việt Nam thuộc nhóm 3 nền kinh tế châu Á đã tăng trưởng dương trong năm 2020, tốc độ tăng trưởng 2,9%. So với các cuộc khủng hoảng trước, Việt Nam trong thời gian qua đã có vị thế tốt hơn để đương đầu.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại dai dẳng nhiều vấn đề của ngành ngân hàng và đây có thể là nguồn gốc gây dễ tổn thương. Để có số liệu tính toán cho báo cáo này, ngân hàng HSBC đã sử dụng bảng cân đối kế toán và báo cáo thường niên mới nhất của nhóm 4 ngân hàng lớn nhất bao gồm Vietcombank, BIDV, Vietinbank và Agribank.
Bởi nhóm 4 ngân hàng chiếm khoảng nửa tổng dư nợ toàn ngành nên HSBC tin rằng số liệu của 4 ngân hàng phản ánh “sức khỏe” chung của ngành.
Và HSBC đưa ra một số kết luận sau đây:
Thứ nhất, nợ tiêu dùng rủi ro cao hơn tăng nhanh chóng, cùng với đó là nợ của các hộ gia đình cũng tăng không khỏi tạo ra nhiều lo lắng. Nợ cho các hộ gia đình tăng đáng kể trong tổng dư nợ cho vay của nhóm 4 ngân hàng lớn nhất, từ 28% vào năm 2013 lên 46% vào năm 2020, và trong cùng thời gian trên, nợ của các hộ gia đình tính trong tương quan với GDP tăng từ 25% GDP lên 61% GDP trong cùng thời gian trên.
Tăng trưởng nợ của các hộ gia đình hạ nhiệt đáng kể trong năm 2020 nhưng vẫn ở mức cao. Còn tính theo bình quân lao động, nợ tiêu dùng trong khi đó tăng từ 41% thu nhập vào năm 2013 lên hơn 100% vào năm 2020. Bởi các chuyên gia của HSBC không thể lấy được số liệu chi tiết hơn, chuyên gia HSBC thừa nhận về hạn chế trong các con số tính toán về nợ hộ gia đình của HSBC. Nếu tính theo điều 4 quy định của IMF, vào năm 2019, khoảng hơn 50% nợ các hộ gia đình dành cho hoạt động kinh doanh đơn lẻ và 25% cho vay thế chấp.
Giả dụ kịch bản tương tự xảy ra trong năm 2020, tín dụng tiêu dùng chiếm khoảng 50% thu nhập bình quân người lao động, tỷ lệ này vẫn là cao ngay cả với nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Nợ tiêu dùng quá cao sẽ kéo tiêu dùng tương lai đi xuống, đặc biệt khi mà thị trường lao động chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19.
Dù rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng tốt và đang trong tình trạng tốt hơn nhiều nền kinh tế trong khu vực, sự suy yếu của thị trường lao động hiện vẫn tiềm ẩn rủi ro cho quá trình phục hồi của nhu cầu nội địa. 
Nếu chỉ nhìn vào các con số, tỷ lệ thất nghiệp trong quý 1/2021 giảm xuống còn 2,4% từ mức đỉnh 2,7% vào quý 2/2020. Tuy nhiên, số lượng việc làm hiện vẫn thấp hơn đến 950 nghìn so với mốc trước đại dịch Covid-19 còn mức lương giảm lần đầu tiên trong nhiều năm trở lại đây. 
Chuyên gia HBSC cũng cho biết rằng họ tính toán số liệu việc làm dựa trên những gì mà họ có được đến hết quý 2/2020. HSBC cho rằng nhiều người vẫn mất việc làm bởi ngành sản xuất và các ngành liên quan đến du lịch, dịch vụ tiếp tục khó khăn. Ngoài ra, cũng theo công bố của Tổng cục Du lịch Việt Nam, khoảng 40% người lao động ngành du lịch hiện vẫn đang chưa có việc làm.
Ngoài ra, cũng phải tính đến việc là phần lớn người lao động của Việt Nam tập trung trong lĩnh vực phi chính thức, chính vì vậy số liệu này có thể không được đưa đầy đủ vào số liệu công bố. Thực tế này khá phổ biến trong các ngành sản xuất nội thất, dịch vụ nhà hàng và giải trí. 
Ngoài ra, hoạt động hỗ trợ bằng chính sách tài khóa của Việt Nam khá hạn chế bởi tỷ lệ nợ công/GDP cao, dù vậy vẫn cần các chính sách hỗ trợ mục tiêu cho các hộ gia đình và người lao động. Không chỉ vậy, sẽ cần thêm chương trình hỗ trợ tài chính và giãn thuế dành cho các hộ kinh doanh, điều này nếu thực hiện được sẽ giúp tăng được tiêu dùng cá nhân.
Nhìn vào cấu trúc nợ các ngân hàng, xét đến thời hạn khoản vay, nợ ngắn hạn dưới 1 năm chiếm khoảng 60% trong tổng dư nợ của nhóm "Big4" trong năm 2020, như vậy năm 2021 sẽ được coi như năm cực kỳ quan trọng của hoạt động thu hồi nợ. Chất lượng các khoản vay của nhóm ngân hàng này như thế nào? Cho đến hiện tại, chất lượng được đánh giá tốt với 97% nợ thu hồi được. Điều này hoàn toàn thực tế nếu xét đến tỷ lệ nợ xấu trên bảng cân đối kế toán các ngân hàng ước tính khoảng 1,6% vào quý 4/2019 lên mức 2,1% vào quý 3/2020.
Cuối cùng, HSBC tin rằng Việt Nam cần nối lại chương trình cải tổ ngành ngân hàng, các mục tiêu này đã bị chững lại do đại dịch Covid-19. Nếu nhìn từ hệ số an toàn vốn (CAR), Việt Nam đang tụt hậu so với các nước láng giềng, Việt Nam là nước ASEAN duy nhất chưa đáp ứng được tỷ lệ CAR tối thiểu 8% theo chuẩn Basel II. Ngay cả tại nhiều ngân hàng nhà nước, tỷ lệ CAR vẫn thấp.
Việt Nam cũng cần đẩy mạnh quá trình tái cấp vốn các ngân hàng và đẩy nhanh việc thực hiện các quy chuẩn Basel II, việc đã bị trì hoãn từ năm 2020 sang năm 2023.
Khi Việt Nam tăng trưởng kinh tế cao, ngành ngân hàng sẽ bớt khó khăn hơn, chính vì vậy HSBC tin rằng ngành ngân hàng cần nhanh chóng khôi phục lại việc cải tổ và xây dựng tiềm lực vốn tốt hơn nhằm ngăn rủi ro tiềm tàng.

NGỌC DIỆP