BizLIVE -

Nguyên nhân chính nằm ở khâu kết nối giữa cộng đồng doanh nhân trong nước và doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài còn quá yếu, chưa kể đến tiêu chuẩn chất lượng của hàng Việt Nam chưa nâng tầm để phù hợp.

Vì sao làm chủ mạng lưới kinh doanh lớn nhưng hàng Việt Nam vẫn khó ra nước ngoài?
Trung tâm thương mại Hà Nội - Moscow ở Moscow
Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài vừa tổ chức tọa đàm "Doanh nhân kiều bào với mạng lưới tiêu thụ hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài", với sự tham gia của đại diện các cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tại rất nhiều nước trên thế giới như Ba Lan, Bỉ, Nga...
Như chủ đề của tọa đàm, đại diện các cộng đồng doanh nghiệp cùng chia sẻ, góp ý về việc phát triển hiệu quả mạng lưới phân phối hàng hóa của người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như nhiều vấn đề còn cản trở việc hàng Việt Nam tham gia mạng lưới này.
Chủ tịch Liên hiệp các hội doanh nghiệp Việt Nam ở châu Âu, ông Hoàng Mạnh Huê khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực rất lớn về cả chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế. Theo ông Huê, xét về khía cạnh kinh tế, các trung tâm thương mại của người Việt Nam ở châu Âu có thể coi như thành công rất lớn, niềm tự hào chứng tỏ tầm nhìn, sự trưởng thành và đồng thời minh chứng cho khả năng hội nhập của cộng đồng người Việt vào các nước sở tại. 
Ông Hoàng Mạnh Huê trong một chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Bình Phước  
Ông Huê chia sẻ, ở châu Âu, tại Nga hay Ukraina, ví như ở Moscow, có thể nói đến tổ hợp đa năng Hà Nội – Moscow với tổng vốn đầu tư hơn 500 triệu USD. Khu tổ hợp này có căn hộ, khách sạn và nhiều trung tâm thương mại. Lực lượng người Việt Nam kinh doanh ở đây hết sức thành công và những năm gần đây. Tổ hợp trung tâm thương mại này thực sự đã trở thành nơi xuất nhập khẩu các hàng thủ công mỹ nghệ, nông lâm sản của Việt Nam lớn nhất vào thị trường Nga. 
Tại Ukraina, người Việt Nam có ba trung tâm thương mại rất lớn. Ở Kharkov, người Việt Nam có cộng đồng buôn bán rất đông đảo và thành công. Ở Odessa, có một khu chợ tuy không phải của người Việt Nam nhưng rộng đến hơn 100 héc ta, lực lượng người Việt tập trung buôn bán rất lớn. Ở Kiev, người Việt cũng có những trung tâm thương mại lớn quy mô tầm 4,5 héc ta.
Tại Đông Âu, cụ thể là ở Ba Lan người Việt cũng có 4 trung tâm thương mại rất lớn, được đầu tư bài bản, xây dựng theo chuẩn mực của các nước EU. Mỗi trung tâm thương mại có diện tích khoảng 10 héc ta với hàng trăm cửa hàng, thương hiệu cùng kinh doanh.
Còn nếu những ai đã từng đến Berlin chắc chắn sẽ biết trung tâm thương mại Đồng Xuân Mart rộng 5,6 héc ta, rồi ở Dresden và nhiều thành phố khác cũng đều có trung tâm thương mại của người Việt.
Ở Tiệp, tại Praha, người Việt có trung tâm bán thương mại kết họp với chợ, diện tích lớn, quy mô đến 30 héc ta.
Trong cộng đồng người Việt nhỏ hơn ví như ở Hungary, có trung tâm thương mại Thăng Long rộng 4,5 héc ta; ngoài hệ thống trung tâm thương mại rải đều ở nhiều thành phố khác, người Việt còn có nhiều công ty, doanh nghiệp xuất nhập khẩu có chuỗi cung ứng rất lớn. 
Tại Nga, có doanh nghiệp có đến 200 cửa hàng bán lẻ. Ở Ba Lan có thể kể đến tập đoàn Taotao kinh doanh rất thành công và có mạng lưới chuỗi cung ứng rất sâu vào nhiều nước châu Âu và hệ thống siêu thị của họ. Ở Tiệp có tập đoàn Tam Đa cũng có 500 nhân viên cung cấp đến gần 10.000 địa điểm bán hàng...
Ở Tây Âu, người Việt chưa có hệ thống trung tâm thương mại lớn, chưa có ở đây với nghĩa người Việt mua đất, xây dựng và trở thành chủ chính thức của trung tâm thương mại nhưng người Việt có hệ thống chuỗi cung ứng rất sâu và kinh doanh sâu rộng với doanh nghiệp các nước sở tại.
Có thể thấy rằng người Việt có mạng lưới trung tâm thương mại và xuất nhập khẩu hàng hóa hết sức mạnh, chuỗi cung ứng sâu và trải rộng trên nhiều vùng khác nhau ở châu Âu, ông Huê nhận xét. 
Các trung tâm thương mại này tạo ra hệ thống kinh doanh rộng rãi và ổn định cho cộng đồng người Việt, nó giúp kết nối hội nhập được rất sâu vào kinh doanh cũng như xã hội của các nước sở tại. Trong quá trình kinh doanh thì đó là trung tâm bán buôn, bán lẻ rất lớn, hàng từ đây tỏa đi các nơi trong thị trường đó. 
Các trung tâm thương mại này đồng thời là nơi để thu thập thông tin, marketing thị trường, tăng cường cơ hội giao thương để mời gọi thêm doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam.
Tuy nhiên, việc tận dụng các trung tâm thương mại của người Việt tại châu Âu để tiêu thụ và phân phối sản phẩm hàng hóa từ trong nước vẫn chưa xứng với tiềm năng. 
 Chợ Đồng Xuân ở Berlin - Đức
Ông Huê dẫn ra một con số ví như tại nhiều trung tâm thương mại lớn, đến 80% người Việt kinh doanh ở đây nhưng tỷ lệ hàng hóa Việt Nam được bán mua chỉ chiếm từ 10 - 15%, còn lại chủ yếu hàng Trung Quốc. 
Câu chuyện tương tự diễn ra tại nhiều nước châu Âu, ví như tập đoàn Tam Đa ở Tiệp kinh doanh rất mạnh về mảng thực phẩm. Còn đại diện một doanh nghiệp nhập khẩu gạo do người Việt làm chủ cho biết chủ yếu nhập gạo của Thái Lan, Campuchia.
"Vậy có thể thấy rõ chúng ta đang tận dụng mạng lưới các trung tâm thương mại và chợ do người Việt làm chủ rất kém", ông Huê nói và hy vọng vấn đề này sẽ được cải thiện trong thời gian tới, với việc đẩy mạnh sự kết nối giữa doanh nghiệp kiều bào và doanh nghiệp trong nước. 
Ông Huê cho rằng có những giải pháp sau đây cần phải được giải quyết để người Việt tận dụng tốt hơn các cơ hội kinh doanh sản phẩm Việt Nam.
Trước tiên là vấn đề trao đổi thông tin, quan hệ giữa doanh nghiệp trong nước và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài còn quá lỏng lẻo. Ông Huê nhận thấy có quá nhiều mặt hàng cực kỳ tiềm năng và chất lượng tốt ở Việt Nam; các sản phẩm này không ở gần Sài Gòn, Hà Nội nhưng những tỉnh này không hề biết rằng sản phẩm của họ hoàn toàn có thể được tiêu thụ ở nước ngoài.
Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài không hề có thông tin để có thể nhập được những loại hàng hóa đó, xưa nay, doanh nhân ở nước ngoài chủ yếu kinh doanh dựa trên thông tin có được từ các thành phố lớn và thông qua hệ thống gia đình, bạn bè cần hàng gì đó thì về nước mua rồi mang sang bán. Nếu có sự kết hợp bài bản hơn giữa hai bên, doanh nhân trong và ngoài nước sẽ có thêm nhiều cơ hội kinh doanh mới. 
Ông Huê cho hay phía doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài sẵn sàng mời doanh nhân Việt Nam ra nước ngoài để quan sát thị trường và tìm hiểu cơ hội bán hàng địa phương, đặc biệt doanh nhân tại các tỉnh xa xôi như Lâm Đồng, Bình Phước. 
Cũng theo ông Huê, cần phải linh hoạt và linh động hóa hình thức hợp tác kinh doanh. Doanh nghiệp Việt Nam ở trong nước có thể mở thêm đại lý chính là doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài. Doanh nghiệp Việt Nam ở trong và ngoài nước có thể cùng kết hợp để xây dựng một chuỗi phân phối sâu, từ chủ động nguồn nguyên liệu cho đến tìm kiếm thêm thị trường và khách hàng mới. 
Còn theo bà Nguyễn Thị Thanh - Chi hội trưởng Chi hội Doanh nhân quốc tế Việt - Âu, chi hội được thành lập trước thềm Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu (EU) – Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực. Với mạng luới hơn 1.000 doanh nghiệp tham gia kết nối kinh doanh, thời gian tới, chi hội sẽ đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ nhằm chuẩn hóa các mặt hàng vào thị trường Tây Âu, đẩy mạnh các chương trình xúc tiến xuất khẩu, tạo cầu nối để doanh nghiệp trong nước tiếp cận nhiều hơn với các đối tác EU.
Ông Hoàng Xuân Bình, Chủ tịch Hội doanh nghiệp Việt Nam tại Ba Lan đưa ra kiến nghị rằng trong thời gian tới, cộng đồng doanh nghiệp kiều bào nên thành lập các cơ sở giúp doanh nghiệp trong nước giám định sản phẩm, tư vấn hoàn thiện chất lượng sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Tại các thị trường xuất khẩu có tiêu chuẩn chất lượng rất cao như EU, doanh nghiệp trong nước thường đối diện với vấn đề này. 
Ông Bình chia sẻ do đại dịch COVID-19, xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn, nhiều đơn hàng bị kéo dài thời gian, thậm chí bị hủy bỏ. Để tránh tình trạng này tiếp tục xảy ra, cộng đồng doanh nghiệp kiều bào cần phối hợp với trong nước thành lập cơ sở đóng gói tại điểm cuối, mở rộng các trung tâm cung ứng sản phẩm nhằm giảm giá thành sản phẩm cũng như thời gian phân phối hàng hóa. Các hiệp hội doanh nghiệp cũng cần phải lập danh sách các công ty xuất khẩu hằng năm để doanh nghiệp kiều bào có thể tham khảo và kết nối hợp tác.

NGỌC DIỆP