BizLIVE - Có người ví von rằng, ngành may mặc Việt Nam hiện nay “không làm ra nổi một cái áo”. Nhận định này cũng không có gì quá đáng bởi chúng ta chủ yếu làm gia công và phụ thuộc phần lớn nguyên liệu từ nước ngoài.
Ngành dệt may: “Thoát Trung” nhìn từ chiếc cúc áo
Ngành dệt may Việt Nam phải làm sao bán được sản phẩm của chính mình mới tạo được giá trị gia tăng và không lệ thuộc. Ảnh T.L

Phụ thuộc và “làm thuê”

Theo ông Đinh Trường Hinh (Chuyên gia kinh tế chính của WB), lấy nhãn hiệu áo sơ mi Polo làm dẫn chứng, các nhà sản xuất Việt Nam chủ yếu chỉ tham gia sản xuất áo sơ mi Polo theo hình thức gia công, trong khi lại phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô mà một tỷ lệ lớn đầu vào này là do các nhà sản xuất nước ngoài mang đơn hàng đến cung cấp.

Cũng theo ông Hinh, ước tính khoảng 80 – 90% sản xuất đồ may mặc ở Việt Nam phụ thuộc vào nguyên liệu thô nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó 60 – 70% là nhập từ Trung Quốc bởi lợi thế giá rẻ, mẫu mã phong phú, đa dạng và chi phí vận chuyển thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực.

Hiện Trung Quốc là “công xưởng dệt may” của thế giới với 86% doanh nghiệp vừa và lớn chiếm ưu thế, trong khi ở Việt Nam có tới 81% các công ty trong ngành dệt may là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ông Phan Chí Dũng, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ (Bộ Công thương) cho biết, nhà máy dệt cấp xã của Trung Quốc đã lên tới 1.000 máy trong khi nhà máy dệt lớn nhất của Việt Nam chỉ có 200 máy.

Điều này nói lên rằng, ngành dệt may Việt Nam rất khó thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc nếu không có những chiến lược “cải tổ” ngay từ bây giờ.

Ông Lê Quang Hùng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Sản xuất - Thương mại May Sài Gòn (Garmex Saigon) cho rằng, đối với doanh nghiệp ngành may nói riêng hay các ngành thâm dụng lao động nói chung, nếu tiếp tục “chạy” theo phương thức gia công thì ngày càng bị lệ thuộc nhiều hơn bởi không thể chủ động trong nguồn cung. Điều này gây rủi ro bất cứ lúc nào nếu nguồn cung có vấn đề kể cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan.

Do đó, theo ông Hùng, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải nghĩ đến việc chuyển đổi nguồn cung từ các nước khác hoặc theo đường vòng hay nội địa hóa. Tuy nhiên, cái khó là các phương án này đều có giá thành cao hơn so với nhập nguyên phụ liệu từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, việc nhập nguyên phụ liệu không chỉ do bản thân doanh nghiệp Việt Nam quyết định mà còn phụ thuộc vào sự chỉ định của khách hàng. Theo các doanh nghiệp trong ngành, để thuyết phục khách hàng nhập nguyên phụ liệu ở các nước khác (giá cao hơn Trung Quốc) không phải dễ bởi đối với họ lợi nhuận vẫn là trên hết.

Theo các chuyên gia, dự báo trong vài năm tới, nguồn cung nguyên phụ liệu của ngành dệt may có thể đến từ hai hướng: Giảm dần từ Trung Quốc, tăng dần ở các nước khác (Myanmar, Bangladesh, Campuchia…) hoặc nội địa hóa tăng dần. Tuy nhiên, điều này có thể sẽ dẫn đến nguy cơ mất khách hàng hoặc giảm sản lượng từ các doanh nghiệp trong nước.

Hiện nay, trở ngại lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam là tay nghề của công nhân không cao và hiệu suất lao động thấp. Trong khi các nhà sản xuất Việt Nam hoàn thành trung bình 12 chiếc áo sơ mi Polo/ngày/người thì các công ty may ở Trung Quốc có thể sản xuất trung bình 25 chiếc (cao gấp hơn 2 lần Việt Nam). Trở ngại này, cùng với giá đầu vào cao hơn, đang làm mất lợi thế của ngành dệt may trong nước.

Thực tế cho thấy, hầu hết các nhà sản xuất Việt Nam đều chỉ giới hạn trong các hoạt động gia công giá trị thấp. Đa phần các doanh nghiệp trong nước bị “mắc kẹt” trong nền sản xuất năng suất thấp, giá trị thấp, chỉ đáp ứng được thị trường nội địa, khó tạo được năng lực cạnh tranh khi vươn ra thị trường thế giới.

“Phải bán sản phẩm của mình”

Theo các chuyên gia, nếu không tạo lập được một ngành dệt nội địa và một chuỗi cung ứng phụ liệu mạnh, hiệu quả tại Việt Nam thì việc mở rộng sản xuất, xuất khẩu cũng không mang lại một tỷ lệ nội địa hóa cao trong phần gia tăng giá trị.

Để thoát khỏi sự lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, các chuyên gia cho rằng, cấp thiết phải đầu tư mạnh vào ngành sợi, dệt và nhuộm. Riêng về nhuộm, hiện Việt Nam phụ thuộc tới 90% thuốc nhuộm từ Trung Quốc. Tuy nhiên, đầu tư vào các lĩnh vực này đòi hỏi chi phí rất lớn cũng như công nghệ, môi trường. Do đó, trước mắt ưu tiên cho các doanh nghiệp FDI thông qua chính sách ưu đãi đầu tư.

Ông Phan Chí Dũng, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ (Bộ Công thương) cho biết, đối với ngành dệt may cái mà Việt Nam đang thiếu là vải và dệt thoi. Về công nghệ, ông Dũng cho rằng điều này không phải là vấn đề. Hiện nhiều doanh nghiệp có công nghệ hiện đại nhưng không thay đổi được gì do chúng ta không tham gia được vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cũng theo ông Dũng, nếu ngành may mặc Việt Nam tự thiết kế được mẫu mã thì sẽ chủ động được phần nào. “Hiện nay mình đang làm cho người ta, nguồn vải của người ta, thiết kế của người ta, mẫu mã của người ta, đó là cái khó của mình”, ông Dũng nhận định.

Để thay đổi tình hình, theo ông Dũng, công nghiệp dệt may trong nước phải phát triển ở mức độ đủ lớn, phải có thiết kế, phải có design, phải bán sản phẩm của mình chứ không phải làm gia công cho người khác nữa. “Một trong những mục tiêu của ngành dệt may là phải chuyển phương thức sản xuất từ gia công sang mua bán sản phẩm”, ông Dũng nhấn mạnh.

Trong khi đó, ông Đinh Trường Hinh cho rằng, ngành may mặc đang đòi hỏi đầu tư gấp vào các hoạt động thượng nguồn và hạ nguồn. 

Các hoạt động thượng nguồn (như vải, tách bông) đòi hỏi lao động có tay nghề và nguồn vốn từ thu hút đầu tư FDI. Đối với các hoạt động hạ nguồn (thiết kết, marketing) cần hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo.

NGÔN DÂN