BizLIVE -
Theo ý kiến của đại biểu Quốc hội, lẽ ra Chính phủ cần đánh giá kỹ hơn tác động của Covid-19 đối với thất nghiệp và thu nhập của người lao động với nhiều tình huống...
Covid-19 và người lao động: “Lẽ ra, Chính phủ cần đánh giá kỹ hơn”
Đại biểu Đỗ Văn Sinh, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.
Như BizLIVE đề cập ở bài viết trước, vấn đề lao độngthất nghiệp trước tác động của dịch Covid-19 là một nội dung được quan tâm trên diễn đàn Quốc hội tại kỳ họp đang diễn ra.
Thực trạng vừa qua và hiện nay chưa hẳn đã là điểm cuối. Vì theo ý kiến của đại biểu, thậm chí cần phải tính đến cả thực trạng có thể xẩy ra ở nhiều tình huống sâu xa hơn, như Covid-19 có thể “tái xuất” trong tương lai, dịch bệnh trên thế giới còn kéo dài và vẫn phải “đóng biên”, hoặc phải mất nhiều thời gian nữa mới có vắc xin thì sao?
Theo đó, khi trao đổi với báo chí bên hành lang Quốc hội, đại biểu Đỗ Văn Sinh, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhấn mạnh quan điểm rằng, thất nghiệp và thu nhập người lao động là vấn đề rất đặc biệt của nền kinh tế những tháng đầu năm nay.
Thưa ông, về tác động của dịch Covid-19, một trong những vấn đề nổi lên hiện nay và dự báo trong thời gian tới là tình trạng thất nghiệp và thu nhập của người lao động bị suy giảm. Vấn đề này đã được báo cáo Quốc hội như thế nào?
Đây là việc rất quan trọng, câu chuyện nhiều doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, thậm chí là phá sản rất lớn. Hàng triệu người lao động ở khu vực chính thức bị cho thôi việc hoặc gián đoạn việc làm, đặc biệt khu vực không chính thức thì tác động đến lao động rất lớn.
Hiện nay Chính phủ cho rằng vẫn đang khắc phục tốt việc đó. Một là người bị thất nghiệp thì tôi lấy quỹ bảo hiểm thất nghiệp tôi trợ cấp cho ông. Nhưng trợ cấp đó chỉ bằng 60% thu nhập của người ta thôi. Mà nhiều nhất thì trợ cấp được 12 tháng, ngắn thì chỉ có ba tháng. Vậy sau ba tháng người ta lấy cái gì mà ăn, lấy cái gì mà sống?
Thứ hai là với 33 triệu lao động phi chính thức. Rõ ràng nền kinh tế trì trệ thì người ta không có thu nhập. Vừa rồi cũng có một khoản trợ cấp nhưng trợ cấp không "cứu" được là bao.
Tôi cho rằng, lẽ ra, Chính phủ cần đánh giá tác động kỹ hơn. Nếu nền kinh tế phục hồi chưa nhanh thì việc này rất hệ trọng, rất cần đánh giá tiếp và đưa ra dự báo tiếp theo với các chỉ tiêu về lao động, việc làm.
Như thế, theo ông thì cơ quan chức năng có quá thụ động về vấn đề lao động, việc làm trong quản lý điều hành vĩ mô cũng như trong hỗ trợ doanh nghiệp, bảo vệ người lao động hay không?
Về phía Chính phủ thì đã dự kiến điều chỉnh chỉ tiêu GDP từ 6,8% lùi xuống 4,5%, giảm 2,3% tức là giảm đến 1/3. Như thế thì chắc chắn là chỉ tiêu tạo việc làm, thất nghiệp cũng không thể như cũ. Nhất là với những lĩnh vực rất nhạy cảm là dệt may, giày da với khoảng 4 triệu lao động bị ảnh hưởng rất lớn.
Đó là dự báo chắc chắn xảy ra thì lẽ ra Chính phủ phải có báo cáo rất kịp thời, song hiện nay vẫn chưa có con số cụ thể để đại biểu có thể xem xét.
Về phía các cơ quan của Quốc hội thì báo cáo thẩm tra cũng đã đề nghị trên cơ sở dự báo thời gian khống chế được dịch bệnh và mở cửa lại nền kinh tế của nước ta và các nước trên thế giới, Chính phủ cần chủ động xây dựng các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn, dài hạn, trong đó có kịch bản theo phương án xấu nhất với khả năng dịch bệnh bùng phát trở lại vào mùa Thu, mùa Đông, dịch bệnh trên thế giới còn kéo dài, chưa thể khống chế trong năm 2020, chưa có vắc xin phòng bệnh…; đánh giá lại các chỉ tiêu, các cân đối lớn của nền kinh tế cho cả năm 2020 và cho cả giai đoạn 2016-2020, trong đó có tình hình lao động, việc làm.
Ủy ban Kinh tế cũng lưu ý các chính sách kinh tế, chính sách tài chính, ngân sách, tín dụng để kích thích sản xuất và khắc phục hậu quả đại dịch Covid-19 phải bảo đảm đúng đối tượng, liều lượng và thời điểm, tính toán kỹ khả năng hấp thụ của nền kinh tế, không để hậu quả cho giai đoạn sau.
Ở một khía cạnh khác, như các phân tích nổi bật hiện nay, Việt Nam trở thành điểm đến của làn sóng dịch chuyển sản xuất đang diễn ra trên toàn cầu. Bên cạnh điểm nghẽn về mặt bằng hạ tầng, thì điểm nghẽn về nhân sự và lao động đáp ứng dòng chảy này, theo quan điểm của ông Việt Nam cần chủ động thế nào để nắm bắt cơ hội từ dịch chuyển đó?
Thời gian qua thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) chủ yếu là chúng ta làm gia công, thậm chí tham gia vào hoạt động một số dây chuyền công nghệ cao cũng chỉ là công nhân.
Hiện nay việc đào tạo nguồn nhân lực rất bất cập, đặc biệt là đào tạo nghề. Cả cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên làm công tác đào tạo cũng đang bất cập thì làm sao mà đào tạo được nguồn nhân lực như yêu cầu.
Đây là hạn chế rất lớn, bởi nếu có khai thông về thể chế thì nguồn nhân lực cao cũng rất quan trọng để đáp ứng dòng chảy như bạn nói.
Xin cảm ơn ông.

KHÁNH PHƯƠNG